Nếu như ở các thành phố lớn, nhịp sống bận rộn, hối hả đã khiến cho công việc gói bánh chưng, bánh tét ở nhiều gia đình không thịnh hành thì ở các vùng nông thôn, việc tự gói và nấu bánh chưng, bánh tét vào những ngày giáp Tết cổ truyền vẫn tồn tại và vẫn còn nguyên vẹn những nét đẹp truyền thống.
Tùy theo nhu cầu và khả năng mà có nhà gói nhiều, nhà gói ít, nhưng nhà nào cũng hoàn thành công đoạn gói bánh nội trong ngày để đến chạng vạng tối là bắt đầu nổi lửa nấu bánh. Củi để nấu bánh là những loại cây lớn, đặc, cháy đượm... Nấu bánh chưng, bánh tét, lửa phải cháy to, đều. Cả gia đình ngồi bên nồi bánh, vừa uống chè, vừa rôm rả hàn huyên đủ chuyện. Các cụ già lại say sưa kể cho con cháu nghe về chàng Hoàng tử Lang Liêu hiếu thảo và nguồn gốc bánh chưng, bánh tét. Đến khuya, con trẻ lần lượt đi ngủ, chỉ còn những người lớn thay nhau thức canh và tiếp nước cho nồi bánh.
Tới khoảng canh ba, canh tư, bánh bắt đầu chín và hương thơm tỏa ra. Đến khi trời hửng sáng thì bánh đã chín nhừ, hương bay thơm phức, khiến nhiều người có cảm giác thèm ăn. Công đoạn vớt bánh ra lại càng hấp dẫn. Lửa tắt, vung mở, một mùi thơm ngào ngạt, tổng hòa từ gạo nếp chín, nhân đậu chín, thịt lợn chín và nhiều loại gia vị thơm lừng khắp cả nhà, thơm tận sang nhà hàng xóm. Vớt bánh ra, để nguội, rồi lựa những chiếc đẹp hơn đặt lên bàn thờ gia tiên, hoặc đem biếu bố mẹ, ông bà, thầy giáo, đó là một phong tục tốt, một nét đẹp văn hóa lâu đời của người Việt. Và đã có những câu đối rất hay nói về nghĩa cử này:
"Mẹ lom khom vớt bánh chưng xanh
Lựa mấy tấm thơm ngon thờ tiên tổ
Ông hí hoáy viết câu đối đỏ
Tìm những từ đặc sắc nhủ cháu con".
Dù cuộc sống không ngừng phát triển và thay đổi nhưng ở các vùng nông thôn nước ta từ xưa đến nay vẫn lưu giữ, nối truyền việc nấu bánh chưng, bánh tét trong dịp Tết cổ truyền, âu đó cũng là một phần không thể thiếu để làm nên vẻ đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và trong sự tinh tế, mặn mà của nếp sống hương đồng gió nội nói riêng.
Theo Phụ nữ VN









